Chào mừng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng - Chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ X (nhiệm kỳ 2015 - 2020)
Thư viện hình
Liên kết website
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
HỌC TẬP PHONG CÁCH ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Cập nhật 07/07/2015 17:26 Xem với cỡ chữ

HỌC TẬP PHONG CÁCH ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH​

Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của quan hệ quốc tế, đề ra hoạt động đối ngoại toàn diện, trong đó kết hợp chặt chẽ giữa đối ngoại của Đảng, ngoại giao của Nhà nước và đối ngoại nhân dân của Mặt trận và các tổ chức quần chúng, nhằm phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đặt lợi ích chân chính của dân tộc trong tinh thần quốc tế vô sản gắn với lợi ích cộng đồng quốc tế. Người đã ví đó như “hai cánh của một con chim”, đấu tranh vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời góp phần tích cực vào sự nghiệp cách mạng giải phóng các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Tư tưởng và phong cách đó của Hồ Chí Minh là di sản quý báu cho việc định hướng đường lối đối ngoại và xây dựng phong cách đối ngoại trong thời kỳ đổi mới, hội nhập phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, nổi bật những nội dung chính:

images769190_Trang_4.jpg
Hồ Chủ tịch giới thiệu Tổng thống Pra – Sad, vị khách quý, sứ giả lớn của Ấn Độ với nhân dân ta, 1959. Ảnh TL

1. Những nguyên tắc trong quan hệ quốc tế theo quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh

- Nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

Với bất cứ quốc gia, dân tộc nào, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Đó cũng là khát vọng ngàn đời làm nên lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, quan hệ quốc tế là nhằm bảo vệ nền độc lập dân tộc, tôn trọng chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Người đã từng nói rằng: Chúng ta sẵn sàng nhân nhượng để có một giải pháp chung. Song, độc lập quốc gia và tự do dân tộc thì không được vi phạm. Người đã khẳng định trước quốc dân đồng bào: Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi.

Hơn nữa, với Hồ Chí Minh thì độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Do đó, ngay sau khi giành độc lập, chính quyền cách mạng phải xây dựng thiết chế cho một xã hội tốt đẹp, xóa bỏ bóc lột, xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới là nhằm mục đích đó.

Xuyên suốt các thời kỳ cách mạng, giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là một nguyên tắc quan trọng nhất trong đường lối đối ngoại của Đảng ta. Tư tưởng đó đã được đúc kết thành một trong năm bài học lớn qua hơn 25 năm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước: “Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Quán triệt sâu sắc nguyên tắc này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc nhở, trong bối cảnh đất nước ta đang phát triển với nhiều thuận lợi và thách thức, công tác đối ngoại cần nắm vững tư tưởng chỉ đạo là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế với nguyên tắc xuyên suốt là lợi ích quốc gia, dân tộc là ưu tiên cao nhất.

- Nguyên tắc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, thực hiện đoàn kết hữu nghị, hợp tác cùng có lợi vì mục tiêu chung của dân tộc.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là nhân tố có ý nghĩa quyết định thắng lợi bền vững. Đặt cách mạng Việt Nam là bộ phận gắn bó với cách mạng thế giới và nằm trong tiến trình chung của cách mạng thế giới; mở rộng tối đa quan hệ hữu nghị, hợp tác, sẵn sàng là bạn với tất cả mọi nước dân chủ; giữ vững độc lập tự chủ, dựa vào sức mình là chính; tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ, đồng thời không quên nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình.

Ngày nay, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế là xu hướng khách quan của thời đại, lôi cuốn các nước vừa thúc đẩy hợp tác hữu nghị, vừa tăng cường phụ thuộc lẫn nhau. Chúng ta xây dựng mối quan hệ với các nước trong bối cảnh chung quốc tế, xử lý đúng đắn quan hệ với các nước lớn; luôn củng cố và tăng cường mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập, nhất là với các nước láng giềng đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững. Đồng thời, mở rộng quan hệ bè bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một dân tộc nào. Thực hiện đoàn kết, hữu nghị, hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi nhằm tranh thủ mọi tiềm năng, tiềm lực bên ngoài phục vụ cho công cuộc kiến thiết đất nước, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Thực hiện nguyên tắc này, bước vào thời kỳ đổi mới, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII chỉ rõ: “Trong điều kiện mới càng phải coi trọng vận dụng bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”.

- Nguyên tắc kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với tinh thần quốc tế trong sáng, tự quyết, bình đẳng, không can thiệp vào nội bộ của nhau.

 Vận dụng và phát triển tư tưởng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, ba nguyên tắc cơ bản là: Các dân tộc có quyền bình đẳng; các dân tộc có quyền tự quyết; đoàn kết giai cấp công nhân, các dân tộc. Từ đó, kết hợp giữa tinh thần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng trong quan hệ quốc tế. Theo Hồ Chí Minh, ta phải có thế, có lực thì bên ngoài mới giúp đỡ một cách có hiệu quả. Sự giúp đỡ của bên ngoài là quan trọng, nhưng “muốn người ta giúp cho, thì trước đó mình phải tự giúp mình đã”. Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc, đoàn kết không chỉ trong phạm vi các dân tộc của một quốc gia, mà đoàn kết phải trên tinh thần quốc tế vô sản, tôn trọng quyền tự quyết, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Người chủ trương xây dựng mối quan hệ với các dân tộc trên thế giới dựa trên nguyên tắc bình đẳng, hợp tác và các bên cùng có lợi.

- Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hoà bình, phù hợp đạo lý và luật pháp quốc tế, chống chiến tranh, bảo vệ hoà bình.

Những vấn đề tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia phải giải quyết trên cơ sở nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Đồng thời, Hồ Chí Minh luôn đề cao nguyên tắc đạo lý, chính nghĩa và nhân nghĩa trong quan hệ quốc tế; bảo vệ hòa bình và chống chiến tranh xâm lược.

Thời kỳ đầu tiên khi cách mạng mới giành được chính quyền, trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc bởi thù trong giặc ngoài, Hồ Chí Minh sau những cuộc thương lượng và nhân nhượng có nguyên tắc, ngày 6-3-1946 đã ký kết Hiệp định sơ bộ Pháp - Việt. Trong đó, Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có Chính phủ, Quốc hội, quân đội và tài chính riêng, nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Khối Liên hiệp Pháp. Hiệp định mang tính chất văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Với bản Hiệp định này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn đất nước ta đến một vị trí quốc tế ngày càng vững vàng, và đó là một thắng lợi chính trị, tạo cơ hội và vị thế quốc tế cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi hoàn toàn. Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Người gửi thư để nhân dân Mỹ hiểu rõ: “Chúng tôi yêu chuộng hòa bình, nhưng phải là hòa bình chân chính trong độc lập, tự do”. Từ đó, kêu gọi nhân dân Mỹ yêu chuộng hòa bình phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa của Chính phủ Hoa Kỳ.

Phương pháp giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hoà bình, phù hợp đạo lý và luật pháp quốc tế của Hồ Chí Minh được các nhà ngoại giao quốc tế khâm phục. Ông Alfred Almasi, nguyên Đại sứ Hungari tại Việt Nam đã viết: “Tinh thần của Hồ Chí Minh đã theo suốt sự nghiệp của tôi, trong nhiệm kỳ ngoại giao của tôi tại Việt Nam, Campuchia và Lào. Tinh thần Hồ Chí Minh giống như chiếc la bàn trong cuộc sống của tôi”.

- Chủ động đa phương, đa dạng mối quan hệ quốc tế.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng, xử lý đúng đắn quan hệ với các nước lớn, phấn đấu mở rộng quan hệ quốc tế của Việt Nam theo hướng đa dạng hóa: “Nước Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”, khẳng định nhân dân Việt Nam luôn rộng mở chào đón nhân dân các nước trên thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Mục đích là tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức và nhân dân thế giới, tạo thêm nguồn lực cho cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Mặt khác, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước sau kháng chiến. Đối ngoại nhân dân có vai trò quan trọng đối với việc đa phương, đa dạng hóa mối quan hệ quốc tế; thân thiện quan hệ hợp tác với các tổ chức nhân dân, tổ chức phi chính phủ các nước trên thế giới. Đối ngoại nhân dân là cơ sở cho sự thắng lợi của ngoại giao Nhà nước.

2. Học tập phong cách và nghệ thuật trong đối ngoại của Hồ Chí Minh

Phong cách đối ngoại Hồ Chí Minh là sự kết hợp của trí tuệ, tình cảm và sự kiên quyết, tạo nên một sức mạnh có sức thuyết phục mạnh mẽ. Nghệ thuật trong đối ngoại Hồ Chí Minh là vận dụng nhuần nhuyễn phong cách linh hoạt, phương pháp ứng xử nhạy bén, sáng tạo, hiệu quả cao. Phong cách và nghệ thuật ấy nổi bật:

- Ứng xử linh hoạt, khôn khéo, bản lĩnh, trí tuệ và tự tin.

Nghệ thuật đối ngoại Hồ Chí Minh được đúc kết bởi trí tuệ có tính lý luận sâu sắc, kết hợp kinh nghiệm phong phú với tư duy sáng tạo trên nền tảng của truyền thống dân tộc phương Đông và khoa học Mác - Lênin. Với bản lĩnh tự tin, Người ứng xử linh hoạt, khôn khéo trong đối ngoại. Trên nền tảng triết lý phương Đông, Người luôn biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng, biết biến. Từ đó, trong giao tiếp, Người luôn chân thành nhã nhặn, lịch thiệp, hòa ái, dễ cảm hóa và có tính thuyết phục cao với đối tượng giao tiếp. Bên cạnh đó, luôn mềm dẻo và kiên định mục tiêu, nhân nhượng có nguyên tắc.

Năm 1946, ở Pa-ri, trong một cuộc họp báo, một nhà báo Pháp ít thiện cảm hỏi Hồ Chí Minh rằng, thưa Chủ tịch, ngài có phải là cộng sản không? Bác Hồ của chúng ta liền đi đến lẵng hoa bày trên bàn, vừa rút ra từng bông tặng mỗi người, vừa vui vẻ nói, tôi là người cộng sản như thế này này. Những vị khách quốc tế đã gặp Hồ Chí Minh luôn giữ ấn tượng sâu sắc bởi sức cảm hóa kỳ lạ của Người, bởi vốn hiểu biết uyên bác, tài trí thông minh tuyệt vời và cũng bởi sự giản dị, lạc quan, kinh nghiệm và tự tin hòa quện trong phong cách lịch thiệp, nho nhã. Đó cũng là điều cả thế giới tôn kính và ngưỡng vọng, coi Người như một biểu tượng cao cả của nhân đạo, của hòa bình, hài hòa giữa yêu nước và quốc tế, tôn vinh là người anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới.

Đúng như nhà báo Mỹ David Halberstam viết rằng, Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật kỳ lạ của thời đại này - hơi giống Gandhi, hơi giống Lênin, hoàn toàn Việt Nam. Một nhà hoạt động chính trị Mêhicô, ông Ignacio Gonzalez Janzen đã nhận xét: “Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ xuất chúng của dân tộc Việt Nam, một yếu nhân của quá trình phi thực dân hóa trong thế kỷ XX. Đặc biệt, Người còn là một bậc thầy vĩ đại trong khoa học và nghệ thuật giành tự do cho các dân tộc - chủ đề chính của tất cả các nền văn hóa và là mục tiêu đầu tiên của nhân loại...”.

- Kết hợp lý lẽ và tình cảm trong quan hệ quốc tế.

Hồ Chí Minh đã nói với cán bộ ngoại giao rằng, trong quan hệ đối ngoại, cần nắm chắc lịch sử văn hóa của đất nước bạn, chú ý phong tục tập quán, truyền thống tốt đẹp của đất nước đó và xây dựng tình cảm thân thiện. Đó là cơ sở góp phần thiết lập và củng cố quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam với các nước trên thế giới. Người nhấn mạnh: “Cán bộ ngoại giao từ thấp đến cao đều là đại diện cho dân tộc, là hình ảnh của đất nước Việt Nam ở nước ngoài”. Bởi vậy, người cán bộ ngoại giao, trước tiên cần rèn luyện lập trường tư tưởng, nắm vững đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời cũng phải nắm vững tình hình mọi mặt của nước sở tại, nơi mình công tác, “phải hiểu cả hai bên mới có thể làm tròn nhiệm vụ”. Một nhà ngoại giao Ấn Độ, ông Greetesh Sharma đã bày tỏ cảm xúc: “Hồ Chí Minh đã để lại những tình cảm tốt đẹp không bao giờ quên cho nhân dân Ấn Độ. Người đã chinh phục được hoàn toàn trái tim của mọi người bằng phong cách nói chuyện, sự thân mật, tính khiêm nhường và giản dị của mình. Thế hệ đã được nhìn thấy Người trong những ngày đó vẫn còn nhớ đến Người với tình cảm, lòng ngưỡng mộ và kính trọng sâu sắc”.

- Sử dụng ngoại ngữ, vũ khí quan trọng của công tác đối ngoại.

Hồ Chí Minh biết nhiều thứ tiếng nước ngoài, trong đó Người sử dụng thành thạo 6 ngoại ngữ: Trung Quốc, Pháp, Anh, Nga, Tây Ban Nha và Thái Lan. Người nói: Không biết hoặc không thông thạo tiếng nước sở tại thì khả năng nghiên cứu và giao tiếp sẽ bị hạn chế. Đặc biệt, trong những tiếp xúc riêng bên lề hội nghị, nếu không có ngoại ngữ vững, người cán bộ sẽ thiếu tự tin, dẫn đến mặc cảm, hạn chế trong hoạt động đối ngoại.

Hồ Chí Minh trong buổi nói chuyện tại Hội nghị Ngoại giao lần 3 (tháng 1-1964) đã chỉ dạy: Cán bộ ngoại giao, một là phải có quan điểm và lập trường của Đảng làm kim chỉ nam. Hai là phải có tư cách đạo đức tốt, không để cá nhân lên trên lợi ích chung. Ba là về phương pháp công tác phải thận trọng, cảnh giác và giữ bí mật nhà nước. Bốn là phải có tinh thần học hỏi và tự lực cánh sinh, tiết kiệm. Năm là phải học tiếng nước ngoài. Công tác ở nước nào cần học tiếng của nước đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của cả dân tộc Việt Nam, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc. Trong đó, nét đặc sắc nhất là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống với hiện đại trên cơ sở phát huy giá trị nhân văn tinh hoa của dân tộc, kết hợp với tinh thần quốc tế vô sản, tất cả vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì sự tiến bộ của các dân tộc và hạnh phúc mọi người. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đường lối chiến lược đối ngoại kiên định của Đảng và Nhà nước ta với những sách lược linh hoạt đã giành thắng lợi to lớn trong cách mạng giải phóng dân tộc và ngày nay đang góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tài liệu tham khảo

- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, VII.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2 Báo Nhân dân, số 4643, ngày 24-12-1966.

- Hội thảo Quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” - Kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ths. NGUYỄN CÔNG NGUYÊN

Trưởng Ban Kinh tế đối ngoại, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam                                                                                                  Nguồn:http://www.mattran.org.vn/

CÁC TIN KHÁC
LIÊN HIỆP CÁC TỔ CHỨC HỮU NGHỊ TỈNH ĐỒNG NAI
Địa chỉ: Số 129, Hà Huy Giáp, phường Quyết Thắng, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: (02513)843.909
Fax: (02513)846.066
Email: dufo.dn@gmail.com
Phát triển bởi TTCNTT-TT Đồng Nai